Wednesday, November 18, 2015
Chí Tâm Sám Hối Nghiệp Chướng
HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.19/11/2015.
12 Lời Phát Nguyện Đảnh Lễ Phật A Di Đà Cầu Vãng Sanh Cực Lạc | phongluu...
HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.19/11/2015.
Wednesday, November 11, 2015
KINH DIỆT TRỪ PHIỀN GIẬN
HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.11/11/2015.
Thursday, August 13, 2015
Phật Nói Kinh Vu Lan Bổn - Thầy Thích Trí Thoát tụng (có chữ) - YouTube
HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).NIEM PHAT DUONG KIM HOA.THICH NU TAM GIAC.NIEM PHAT DUONG KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.AUSTRALIA,NEWCASTLE,SYDNEY.13/8/2015.
Monday, August 10, 2015
Kinh Báo Hiếu Cha Mẹ (Kinh VU LAN)
HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).NIEM PHAT DUONG KIM HOA.THICH NU TAM GIAC.NIEM PHAT DUONG KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.AUSTRALIA,NEWCASTLE,SYDNEY.11/8/2015.
Wednesday, July 15, 2015
Cảnh sách (PDF file)
- Cảnh sách Khuya (mp3)
- Cảnh sách Tiểu Thực (mp3)
- Cảnh sách Học Sáng (mp3)
- Cảnh sách Ngọ Trai (mp3)
- Cảnh sách Thức Chúng (mp3)
- Cảnh sách Học Chiều (mp3)
- Cảnh sách Tỉnh Tối (mp3)
- Cảnh sách Lâm Thụy (mp3)
Cúng trai đường (PDF file)
- Cúng cơm (mp3)
- Ngũ quán (PDF file) – Ngũ quán (mp3) (SC Đồng Hiệp đọc)
- Sám sáu căn (PDF file) – Sám sáu căn (mp3)
- Kết trai (mp3)
Khóa lễ Tịnh Độ (PDF file)
- Lễ Phật (mp3)
- Sám Hối (mp3)
- Khai kinh (mp3)
- Tụng kinh Di Đà (mp3)
- Chú Vãng Sanh (mp3)
- Bát Nhã Tâm Kinh (mp3)
- Niệm Phật (mp3)
- Phát nguyện (mp3)
- Hồi hướng (mp3)
- Phục nguyện – Tam quy (mp3)
Khóa Lễ Lăng Nghiêm (PDF file)
- Khai kinh (mp3)
- 5 Đệ (mp3)
- Hồi hướng (mp3)
- Lễ Phật (mp3)
- Sám Phổ Hiền (mp3)
- Tán Lễ Thích Tôn (mp3)
- Phục nguyện – Tam quy (mp3)
- Phục niệm (mp3)
Khóa lễ Dược Sư (PDF file)
- Lễ Phật (mp3)
- Khai kinh (mp3)
- Tụng kinh Dược Sư (1) (2) (3) (4) (mp3)
- Tán nhiễu đàn (mp3)
- Niệm Phật (mp3)
- Bát Nhã tâm kinh (mp3)
- Phát nguyện sám hối (mp3)
- Tam quy (mp3)
Hô chuông (PDF file)
- Hô chuông (mp3)
Sám tụng
- Sám phát nguyện quy y (mp3)
- Sám vô thường (mp3)
- Sám phụ thân (mp3)
- Sám tống táng (mp3)
- Phát nguyện sám hối (mp3)
- Sám hối nguyện (mp3)
- Sám Mục Liên (mp3)
- Tu là cõi phúc (mp3)
Đại Đàn Thí Thực
- Chiêu Hồn Ca (PDF)
- Chiêu Hồn Ca (mp3)
- Nghi thỉnh 12 loại cô hồn (PDF)
- Nghi thỉnh 12 loại cô hồn (mp3)
- Mông Sơn Thí Thực (PDF)
- Tụng Thí Thực (mp3)
Kinh Vu Lan (PDF file)
- Kỳ nguyện (mp3)
- Khai kinh (mp3)
- Kinh Vu Lan (mp3)
- Khai kinh Báo ân (mp3)
- Tụng kinh Báo ân (mp3)
- Sám Mục Liên (mp3)
- Hồi hướng – Tam quy (mp3)
Niệm Phật (mp3) do SC Chân Quán và SC Diệu Thiện niệm.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).NIEM PHAT DUONG KIM HOA VA TINH THAT KIM LIEN.THICH NU TAM GIAC VA THICH NU CHAN TANH.AUSTRALIA,ADELAIDE VA SYDNEY.16/7/2015.
Sunday, June 7, 2015
VIDEO KINH 3D - PHẬT NÓI KINH A DI ĐÀ ( CÓ HÌNH ) - ĐĐ. THÍCH TRÍ THOÁT ...
HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.BAT CHANH DAO.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.8/6/2015.
Saturday, May 30, 2015
Nghi Thức Niệm Phật Hằng Ngày.
PHIÊN BẢN VIỆT VĂN
Y phục ngay thẳng đứng hướng về bàn thờ Phật. Nếu nhà không có nơi thờ phượng có thể xoay mặt về hướng Tây (hướng mặt trời lặn).1. ĐẢNH LỄ
Chí tâm đảnh lễ: Nam mô tận hư không biến pháp giới quá, hiện, vị lai thập phương chư Phật, Tôn Pháp Hiền Thánh Tăng thường trụ Tam Bảo. (1 lạy)
Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Ta Bà Giáo Chủ Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, Đương Lai Hạ Sanh Di Lặc Tôn Phật, Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát, Hộ Pháp Chư Tôn Bồ Tát, Linh Sơn Hội Thượng Phật Bồ Tát. (1 lạy)
Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Đại Từ Đại Bi A Di Đà Phật, Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát, Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát, Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ Tát. (1 lạy)
2. TÁN PHẬT
A Di Ðà Phật thân sắc vàng
Tướng tốt quang minh tự trang nghiêm
Năm Tu Di uyển chuyển bạch hào
Bốn biển lớn trong ngần mắt biếc
Trong hào quang hóa vô số Phật
Vô số Bồ tát hiện ở trong
Bốn mươi tám nguyện độ chúng sanh
Chín phẩm sen vàng lên giải thoát
Quy mạng lễ A Di Ðà Phật
Ở phương Tây thế giới an lành
Con nay xin phát nguyện vãng sanh
Cúi xin Ðức Từ Bi tiếp độ.
Nam-mô Tây phương Cực lạc thế giới đại từ đại bi A Di Đà Phật.
3. NIỆM PHẬT
Nam-mô A Di Đà Phật hoặc A Di Đà Phật (Tùy niệm càng nhiều càng tốt)
Nam-mô Quán Thế Âm Bồ Tát (3 lần)
Nam-mô Đại Thế Chí Bồ Tát (3 lần)
Nam-mô Địa Tạng Vương Bồ Tát (3 lần)
Nam-mô Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ Tát (3 lần)
4. SÁM HỐI
Con xưa đã tạo bao ác nghiệp
Đều do vô thủy tham sân si
Bởi thân khẩu ý phát sinh ra
Hết thảy con nay nguyện sám hối. (3 lần)
5. PHÁT NGUYỆN
Nguyện sanh Tịnh Độ ở Tây Phương
Chín phẩm hoa sen là cha mẹ
Hoa nở thấy Phật chứng vô sanh
Bồ Tát bất thối là bạn lữ.
6. TAM TỰ QUY Y
Tự quy y Phật. Nguyện cho chúng sanh hiểu sâu đạo cả, phát tâm vô thượng.(1 lạy)
Tự quy y Pháp. Nguyện cho chúng sanh thấu rõ kinh tạng, trí tuệ như biển.(1 lạy)
Tự quy y Tăng. Nguyện cho chúng sanh tâm ý hòa hợp, biết thương mến nhau.(1 lạy)
7. HỒI HƯỚNG
Nguyện đem công đức này
Trang nghiêm Phật Tịnh Độ
Trên đền bốn ân nặng
Dưới cứu khổ ba đường
Nếu có ai thấy nghe
Đều phát lòng bồ đề
Hết một báo thân này
Đồng sanh cõi Cực Lạc
PHIÊN BẢN HÁN VĂN
1. ĐẢNH LỄChí tâm đảnh lễ: Nam mô tận hư không biến pháp giới quá, hiện, vị lai thập phương chư Phật, Tôn Pháp Hiền Thánh Tăng thường trụ Tam Bảo. (1 lạy)
Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Ta Bà Giáo Chủ Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, Đương Lai Hạ Sanh Di Lặc Tôn Phật, Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát, Hộ Pháp Chư Tôn Bồ Tát, Linh Sơn Hội Thượng Phật Bồ Tát. (1 lạy)
Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Đại Từ Đại Bi A Di Đà Phật, Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát, Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát, Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ Tát. (1 lạy)
2. TÁN PHẬT
A Di Đà Phật thân kim sắc
Tướng hảo quang minh vô đẳng luân
Bạch hào uyển chuyển ngũ Tu Di
Hám mục trừng thanh tứ đại hải
Quang trung hóa Phật vô số ức
Hóa Bồ tát chúng diệc vô biên
Tứ thập bát nguyện độ chúng sanh
Cửu phẩm hàm linh đăng bỉ ngạn
Khể thủ Tây Phương An Lạc quốc
Tiếp dẫn chúng sanh đại đạo sư
Ngã kim phát nguyện, nguyện vãng sanh
Duy nguyện từ bi ai nhiếp thọ.
Nam-mô Tây phương Cực lạc thế giới đại từ đại bi A Di Đà Phật.
3. NIỆM PHẬT
Nam-mô A Di Đà Phật hoặc A Di Đà Phật (Tùy niệm càng nhiều càng tốt)
Nam-mô Quán Thế Âm Bồ Tát (3 lần)
Nam-mô Đại Thế Chí Bồ Tát (3 lần)
Nam-mô Địa Tạng Vương Bồ Tát (3 lần)
Nam-mô Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ Tát (3 lần)
4. SÁM HỐI
Ngã tích sở tạo chư ác nghiệp
Giai do vô thủy tham sân si
Tùng thân ngữ ý chi sở sanh
Nhất thiết ngã kim giai sám hối. (3 lần)
5. PHÁT NGUYỆN
Nguyện sanh Tây phương Tịnh độ trung
Cửu phẩm liên hoa vi phụ mẫu
Hoa khai kiến Phật ngộ vô sanh
Bất thối Bồ Tát vi bạn lữ.
6. TAM TỰ QUY Y
Tự quy y Phật. Đương nguyện chúng sanh thể giải đại đạo, phát vô thượng tâm.(1 lạy)
Tự quy y Pháp. Đương nguyện chúng sanh thâm nhập kinh tạng, trí huệ như hải.(1 lạy)
Tự quy y Tăng. Đương nguyện chúng sanh thống lý đại chúng, nhứt thiết vô ngại.(1 lạy)
7. HỒI HƯỚNG
Nguyện dĩ thử công đức
Trang nghiêm Phật Tịnh độ
Thượng báo tứ trọng ân
Hạ tế tam đồ khổ
Nhược hữu kiến văn giả
Tức phát Bồ đề tâm
Tận thử nhứt báo thân
Đồng sanh Cực Lạc quốc.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.BAT CHANH DAO.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.31/5/2015.
Wednesday, May 13, 2015
Wednesday, May 6, 2015
Niệm Phật Kiểu Tịnh Tông Học Hội Rất Hay
HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.BAT CHANH DAO.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA.SYDNEY.7/5/2015.
Niệm Phật Kinh Hành - Đức Toàn
HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.BAT CHANH DAO.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.6/5/2015.
NIỆM PHẬT 4 CHỮ - A DI ĐÀ PHẬT - ĐẠI CHÚNG PHẬT TỬ ĐỒNG NIỆM
HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.BAT CHANH DAO.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.6/5/2015.
Saturday, April 11, 2015
TỤNG KINH DI GIÁO - ĐĐ. THÍCH HUỆ DUYÊN
HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.BAT CHANH DAO.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.12/4/2015.
Wednesday, April 1, 2015
CÁC BÀI SÁM VỀ CHA MẸ
HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.BAT CHANH DAO.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.2/4/2015.MHDT
Kinh Sám Hối Hồng danh ( Có Chữ ) - ĐĐ.Thích Trí Thoát Tụng
HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.BAT CHANH DAO.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.2/4/2015.MHDT
Friday, March 27, 2015
Nghi thức tụng kinh Đại THUA.
Tôn giáo nào cũng có những nghi thức hành lễ, đạo Phật không thoát ra ngoài thông lệ đó.
Vì sự phong phú của các tông phái và pháp môn trong đạo Phật, nghi thức hành lễ cũng rất đa dạng và tùy thuộc tông phái người hành trì. Một Phật tử Thiền tông Nhật theo nghi thức khác với một Phật tử Tây tạng, cũng không giống một Phật tử Thái lan tụng kinh Cầu An, lại càng khác một Phật tử Việt nam ngồi niệm Phật... Ngay cả những Phật tử tự xem cùng một dòng phái Lâm Tế chẳng hạn, mà một Phật tử Việt “Lâm tế chánh tông” theo Tịnh độ hành trì không thấy giống một Thiền sinh Rinzai Mỹ chút nào.
Trong phạm vi bài này, chúng ta thử tìm hiểu ý nghĩa Nghi thức tụng niệm đang phổ biến nhiếu nhất tại Việt nam (và Trung hoa), tức Nghi Thức Thống Nhất, hiện được số đông hành trì, không những vì phối hợp các pháp môn khác nhau, thỏa mãn nhu cầu tông phái khác biệt, mà còn vì sự uyển chuyển dễ dàng thích ứng yêu cầu cụ thể, cũng như sự sắp xếp hài hòa và đầy đủ các kinh Đại thừa không thể tìm thấy trong các nghi thức khác.
Bố cục một nghi thức tụng kinh
Một buổi tụng kinh là một nghi lễ, và như mọi nghi lễ, có phần chào hỏi, làm lễ, và cáo lui, nói rõ là ba phần của bất cứ một nghi thức nào:
1- Đảnh lễ.
2- Tụng kinh.
3- Tự quy & Hồi hướng.
Ta sẽ tìm hiểu từng phần, và ghi nhớ rằng trên thực tế có rất nhiều khác biệt giữa một buổi tụng kinh một mình ở nhà và một buổi lễ hiệp kỵ với nhiều tăng ni nơi công cộng, song thật ra chỉ là những hoa lá thêm thắt như chuông trống, tán tụng... mà thôi.
Trước tiên, cần trả lời ngay câu hỏi rất nhiều người vẫn chưa biết “Tại sao lại gọi là Tụng Kinh, vì tôi có thấy Kinh gì đâu?” Trả lời: “Một buổi tụng kinh đúng nghi thức chính thực là một buổi Tụng Kinh, rõ ràng với Kinh Bát Nhã, Kinh Hoa Nghiêm, Kinh Pháp Hoa, và những Kinh khác” Chúng ta sẽ đi vào chi tiết này trong phần tìm hiểu dưới đây.
Phần 1: Đảnh lễ
Phần này gồm nghi thức nhập pháp giới (làm sạch sẽ ba nghiệp, thỉnh các ngài về, tán dương, nói lời cầu nguyện và đảnh lễ). Lần lượt có:
Niêm Hương
Tịnh Pháp giới Chân ngôn
Cúng Hương & Tán Phật
Kỳ nguyện (xen giữa Cúng Hương và Tán Phật)
Quán Tưởng
Đảnh Lễ
…Tán Lư Hương
Trước khi tụng kinh, tức là vào nghi thức hành lễ, thường phải tắm rửa sạch sẽ, hoặc lau chùi, xông hương ướp hoa (trừ khi thọ bát quan trai vì phạm giới), ngày xưa còn đốt trầm cho thơm; còn phải đánh răng, súc miệng, mặc áo chùng, ngoài đời gọi là áo thụng (có nơi gọi là áo tràng, do chữ trường đọc trại, từ chữ Tàu xường xám) rồi đốt hai cây đèn hoặc nến (pháp học và pháp hành, tức từ bi và trí tuệ).
Về áo chùng (tràng) thì không bắt buộc phải mặc, trừ khi chủ lễ cho đại chúng, vì nhiều lý do:
- không phải ai cũng có.
- không cùng một kiểu áo, màu áo…
- không có áo đúng cỡ
- không muốn mượn mặc vì trái phép vệ sinh…
Tuy nhiên, nếu có mặc và không nề hà thì hay hơn, dù không có công đức gì hơn người không mặc áo chùng.
Bắt đầu vào nghi thức, người tụng kinh, hay chủ lễ cho đại chúng, ngồi (ở nhà) hoặc đứng (ở chùa) chắp hai tay trước ngực (ấn hoa sen), hay kiết ấn tùy theo câu chú nếu biết cách, rồi niệm chú (mật niệm, là nói khẽ) Tịnh Pháp Giới (án lam sóa ha) để làm cho đạo tràng được trong sạch, và Tịnh Tam Nghiệp (án ta phạ bà phạ thuật đà ta phạ đạt ma ta phạ bà phạ thuật độ hám) để cho ba nghiệp thân, miệng, ý được trong sạch, đôi khi thêm chú Tịnh Khẩu Nghiệp (tu lị tu lị ma ha tu lị tu tu lị ta bà ha) để sạch khẩu nghiệp. Có nơi còn thêm chú Án Thổ Địa (nam mô tam mãn đa một đà nẫm, án độ rô độ rô địa vĩ ta bà ha) để chào hỏi chủ đất, và Phổ Cúng Dường (án nga nga nẵng tam bà phạ phiệt nhật ra hồng) để cúng dường mọi chúng sinh. Riêng trong nghi thức tụng Kinh Kim Cang, còn thêm phần Phụng Thỉnh Bát Kim Cang và Tứ Bồ Tát (là các ngài Kim Cang mật tích theo mật tông).
Đạo tràng và thân mình trong sạch rồi, người tụng kinh mới đôt ba nén hương (giới, định, tuệ) đặt ngang trán, quỳ ngay thẳng đọc bài Cúng Hương, thường là Nguyện thử diệu hương vân... (nguyện đem lòng thành kính, gửi theo đám mây hương...), song cũng có thể là Giới hương Định hương dữ Huệ hương... theo các vị lớn tuổi. Ý nghĩa bài này ở ngay lời khấn, đọc lên là rõ. Hương là thức ăn của nhiều quỷ thần, cũng là cách bày tỏ lòng quý kính; ngày xưa, thời vua chúa, khi nhận lệnh vua phải đốt hương quỳ nghe. Nay theo thông lệ ở bàn thờ: hương đăng trà quả (hương, đèn, trà, trái cây), không thể thiếu, song bàn thờ Phật thì thay trà bằng nước lã.
Sau khi Cúng Hương, người chủ lễ tiếp tục cầm hương ngang trán quỳ đọc lời Kỳ Nguyện (cầu nguyện) là nói lên mục đích buổi lễ, làm gì, muốn gì, cầu xin điều gì... thường là:
“Như Lai đức tướng nan tận tán dương (Đức tướng Phật khen không sao xiết). Kim hữu Phật tử ... (Nay có Phật tử tên gì...) kim nhật cung tựu Phật tiền thành tâm thiết lễ ... (hôm nay cùng tụ trước đài Phật tâm thành làm lễ gì [cầu an, cầu siêu, an vị Phật... ] nói ra). Nguyện thập phương thường trú Tam Bảo, bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật, Tiếp Dẫn Đạo sư A Di Đà Phật ... (và các vị khác tùy dịp, như Đại Bi Linh Cảm Ứng Quan Thế Âm Bồ Tát nếu tụng kinh cầu an, hoặc Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát nếu tụng kinh cầu siêu, hoặc thêm Quan Thế Âm và Đại Thế Chí nếu tụng kinh tịnh-độ...) từ bi gia hộ đệ tử (thương xót cho con, tên gì... hoặc thêm chúng đẳng nếu tụng kinh chung) phiền não đoạn diệt, nghiệp chướng tiêu trừ ... (dứt mọi phiền não, tiêu tan nghiệp chướng... và các việc khác tùy theo bài kinh tụng). Khi dứt thì kết bằng hảo tướng quang trung, phủ thùy minh chứng (xin chứng giám lòng thành chúng con).”
Sau khi đọc Kỳ Nguyện để nói mục đích buổi lễ, sẽ nhắc lại trong bài Phục Nguyện trước khi dứt, thì đọc bài Tán Phật ngợi khen công đức các Ngài: Pháp vương vô thượng tôn, tam giới vô luân thất... (Đấng Pháp vương vô thượng, ba cõi chẳng ai bằng...). Hiện nay, nhiều chùa đọc bài Tán Phật này ngay sau bài Cúng Hương rồi mới đọc lời Kỳ Nguyện, không có gì nghịch.
Xong, người chủ lễ đứng dậy, cắm hương vào bát (ở nhà) hay lên lư hương (ở chùa); trong buổi lễ lớn, nhiều vị cùng niêm hương thì thường có người tiếp lấy đem cắm lên hộ. Rồi đứng ngay thẳng đọc bài Quán Tưởng để nhập quán vô ngã (quán giới phân biệt) và nói ý nghĩa đảnh lễ: Năng lễ sở lễ tánh không tịch, cảm ứng đạo giao nan tư nghì... (Phật, chúng sanh tánh thường rỗng lặng, Đạo cảm thông không thể nghĩ bàn...).
Đảnh Lễ là lạy đầu sát đất (đảnh hay đỉnh 頂 là chóp đầu) để vinh danh Tam Bảo mười phương ba đời; thường lạy ba lần sau khi đọc lời vinh danh, tức nam mô theo tiếng Phạn (nama nghĩa là tên, tức là xưng tên các ngài mà mình cầu nguyện, giống như đạo Cơ đốc đọc chữ nhân danh, vì cùng nguồn gốc đạo Phật mà ra, vấn đề này xin nói ở dịp khác). Trong nghi thức thống nhất, lạy lần thứ ba là lạy Phật Di Đà và thánh chúng, nên không phải chỉ dành riêng các người tu tịnh-độ, vì ý nghĩa Đảnh Lễ là lạy tất cả Tam Bảo vốn từ gốc không, như vừa nói trong bài Quán Tưởng.
Đảnh lễ xong, có nơi đọc thêm bài Tán Lư Hương: Lư hương sạ nhiệt, pháp giới mông huân... (Lư hương vừa ngún chiên đàn, khắp xông pháp giới đạo tràng mười phương...) không khác nhiều bài Cúng Hương nên nhiều chỗ không đọc bài này, vì chỉ nhấn mạnh ý đã nêu.
Suốt phần trên, chuông mõ chưa được sử dụng trong buổi lễ lớn mà chỉ có linh (chuông nhỏ cầm tay lắc), khánh (chuông nhỏ gắn ở đầu que, đánh bằng thanh sắt nhỏ), đẩu (giống như cái chảo đồng nhỏ úp ngược, đánh bằng que tre bẻ cong đầu), trống, có khi thêm kèn và đàn dây, còn ở nhà thì dùng chuông để nhịp lạy thôi.
Sau rốt, có nơi đọc bài Khai Kinh Kệ, nhưng theo đúng cách thì nên đọc trước khi vào bản kinh ở phần sau.
Phần 2: Tụng Kinh
Bây giờ đến phần Tụng Kinh chính thức.
Tụng ở nhà, nếu biết đánh chuông gõ mõ thì ngồi ngay thẳng đánh ba tiếng chuông, gõ một hồi mõ, giống như nhạc sĩ thử kèn, không nên chấp nê mà lúng túng không yên.
Ở chùa thì bắt đầu Vô Chuông Mõ tức là gióng chuông gõ mõ để khởi sự tụng kinh, mục đích cũng chỉ như trên, song có thêm phần ý nghĩa nhắc nhở đại chúng trang nghiêm. Các chùa có những cách Vô Chuông Mõ khác nhau, và các thày cũng có những giải thích khác nhau (lôi tam, đả tứ...), nên học để biết và thích nghi với nơi mình tụng kinh. Xong, tụng chú Đại bi.
Phần tụng kinh bao giờ cũng khởi sự bằng Chú Đại Bi và kết thúc bằng Bát Nhã Tâm Kinh theo nguyên tắc vào đại bi, ra bát nhã, ngoại trừ khi tụng có chú Lăng Nghiêm thì Đại Bi phải tụng sau, vì chú Lăng Nghiêm, tức chú Bạch Tán Cái (Sitatapatram) là vua các bài chú (Thủ Lăng Nghiêm vương thế hy hữu), tỷ như trong nghi thức Công phu khuya hay An vị Phật.
Chú Đại Bi là bài Tổng Trì của ngài Quán Âm Thiên Thủ Thiên Nhãn. Ý nghĩa tổng trì Đại Bi là phát tâm Từ Bi; vì thế nên các Tổ xưa đã cặp đôi Đại Bi với Bát Nhã, tức từ bi và trí tuệ. Chú nên tụng nhanh vì tụng chậm dễ buồn ngủ. Các cách chia làm 82 hay 86 câu không quan trọng vì so với bản chữ Phạn thì các cách trên không đúng phép ngắt câu văn phạm.
Tụng xong thì tùy theo ý nghĩa buổi lễ mà có các bài kinh, chú, sám, tán khác nhau. Tựu chung thì nếu tụng kinh bản, như A Di Đà, Phổ Môn, Dược Sư, Pháp Hoa, Niết Bàn, Địa Tạng ... thì tụng bài Khai Kinh Kệ trước: Vô thượng thậm thâm vi diệu pháp, bá thiên vạn kiếp nan tao ngộ, ngã kim kiến văn đắc thụ trì, nguyện giải Như Lai chân thật nghĩa (Phật pháp rộng sâu rất nhiệm mầu, trăm nghìn muôn kiếp khó tìm cầu, con nay thấy nghe nên trì tụng, nguyện tỏ Như Lai nghĩa nhiệm mầu) để ca tụng công đức. Đôi khi, chữ chân thật trong câu cuối được đổi theo ý kinh tụng sau này, như tụng giới thì đổi thành “nguyện giải Như Lai tỳ ni nghĩa”, tỳ ni nghĩa là giới luật. Tương truyền bài kệ này là của bà Võ Tắc Thiên, tức Võ Hậu, viết trong bài tựa Kinh Hoa Nghiêm sớ.
Kinh tụng theo nhịp mõ. Nếu tụng ở nhà thì có thể khỏi gõ mõ, khi ấy gọi là trì kinh, hoặc gõ nhịp đôi (hai tiếng vào một nhịp mõ) cho đỡ mệt, nhưng nên tụng cho đủ, không nhảy tiếng để lấy hơi. Điểm này khác với khi tụng chung, là tính mỗi tiếng một nhịp, khi nghỉ lấy hơi thì lướt qua những tiếng người khác đang tụng, tránh động chúng mà người ta cũng đã tụng qua rồi. Nên theo dõi trong quyển kinh, đừng nên biểu diễn đến tụng sai vì không nhớ đúng câu, trừ khi đã thuộc lòng.
Đánh chuông gõ mõ ở nhà, hay đi cúng đám cần di động, nên dùng mõ (hoặc khánh) và chuông nhỏ để có thể đánh nhanh mà đỡ mệt.
Tụng ở chùa thì chuông mõ đều lớn nên khi đánh chuông thì cầm dùi chuông thẳng đứng, đánh lướt ngang miệng chuông để tiếng chuông được ấm và ngân đều, vì miệng chuông là chỗ dày nhất, trong khi bụng chuông mỏng hơn, đập ngang nghe chát mà có thể vỡ chuông. Khi chuông còn đang ngân mà người chủ lễ đứng lên hoặc bắt đầu tụng thì phải nhập chuông, tức là ấn dùi vào miệng chuông để hãm chuông lại. Đánh chuông trước khi lạy từ hai đến năm tiếng tụng, tùy theo chùa, thường thì đánh càng sớm khi đại chúng càng đông. Gõ mõ lớn thì nắm dùi mõ (búp sen) sát ngoài cán, gõ bằng cổ tay như người kéo vĩ cầm, cho tiếng mõ được ấm và dùi mõ tự nẩy lên cho đỡ mỏi. Khi muốn gõ nhanh, như tụng chú, thì nắm dùi gần đầu (búp sen) và ấn ngón trỏ lên cán mới gõ được nhanh. Trước khi lạy hoặc dứt câu một tiếng thì gõ hai nhịp nhanh thay vì một nhịp thường (giống như hai nốt móc thay vì một nốt đen).
Tụng Chú thì đọc nhanh hơn vì đọc chậm dễ buồn ngủ và tụng sai. Chú là phiên âm chữ Phạn (Sanskrit) nhưng khi viết thì dùng chữ Tất Đàm (hay Tất Đàn, tức Siddham). Người thường hay hiểu lầm chú là những lời bí mật có quyền phép như bùa chú thế gian, nhất là khi thấy pháp sư kết hợp chú và ấn ra vẻ bí ẩn mầu nhiệm, ban ơn giáng họa gì đây. Thật ra, Chú trong Đạo Phật, cũng như Ấn quyết, là Tổng Trì, tức là tóm thâu toàn bộ một bài kinh, một kiến thức, vào một câu xem ra vô nghĩa cho kẻ không am tường. Đó cũng ví dụ như những câu thiệu (mnemonics) mà sinh viên tạo nên để nhớ cho dễ thuộc bài, song đối với người thường thì mơ hồ vô nghĩa. (Sinh viên Việt nam ban Khoa học nhiều người biết câu Khi thi vì cấm tự vị mà thành thử phải xìn hàng, nghe thấy ngô nghê nhưng chính thực là câu thiệu giúp nhớ 12 dây thần kinh não [cranial nerves] theo đúng thứ tự từ số 1; khi = khứu giác, thi = thị giác, vì = vận động chung ... Sinh viên Pháp cũng có câu tương tự O Oscar, ma petite théière me fait à grand peine six grogs).
Các chú thường tụng là chú Chuẩn Đề (nam mô tát đa nẫm tam miệu tam bồ đà câu chi nẫm đát điệt tha, án chiết lệ chủ lệ chuẩn đề sa bà ha) là chủ của Phật mẫu Chuẩn Đề, tượng trưng toàn bộ chư Phật, song đối với người theo pháp môn trì chú Chuẩn Đề thì họ trì chú vào kính đàn và giữ bí mật không cho ai thấy, còn mình tụng chú thường thì không hề gì, cũng không cần phải bắt ấn Chuẩn Đề. Thất Phật Diệt Tội Chân Ngôn (ly bà ly bà đế, cầu ha cầu ha đế, đà la ny đế, ny ha ra đế, tỳ lê nễ đế, ma ha dà đế, chân lăng càn đế, ta bà ha) để cầu an giải nghiệp. Tiêu Tai Cát Tường (nam mô tam mãn đa mẫu đà nẫm, a bát ra để hạ đa xá, ta nẵng nẫm, đát điệt tha, án khư khư ...) cũng để cầu an. Lục Tự Đại Minh (án ma ni bát di hồng) là chú của ngài Quan Thế Âm, thường tụng 108 biến (lần). Chú Vãng Sanh (nam mô a di đa bà dạ đa tha dà đa giạ ...) của Phật Di Đà... Ngoài ra còn hàng ngàn các câu chú tùy theo Kinh và nghi thức tụng.
Bài Tán thường tụng chậm, kèm sau Kinh tụng, như Tán Phổ Môn, Tán A Di Đà, Tán Dược Xoa, Tán Kim Cang, Tán Phật trong Công Phu khuya ... để khen ngợi kinh.
Các bài Sám tụng chậm, thường phải quỳ, là các bài văn của các Tổ làm sẵn để cầu nguyện hay nhắc nhở một việc gì, như Sám Nhất Tâm, Sám Khể Thủ, Sám Phát Nguyện của tịnh-độ, Sám Quy Mạng của thiền sư Di Sơn thường tụng trong Công Phu Khuya, Sám Phổ Hiền nói về mười hạnh nguyện của Phổ Hiền, Sám Quan Âm ... Bài Thị Nhật là bài sám khuyến tu thường tụng buổi chiều: thị nhật dĩ quá, mạng diệc tùy giảm, như thiểu thủy ngư, tư hữu hà lạc... (ngày nay đã qua, mạng sống giảm dần, như cá cạn nước, nghĩ có gì vui...).
Ngoài ra còn có Niệm Phật, Kinh Hành hoặc đi nhiễu, tùy theo nghi thức và tùy theo chùa.
Sau rốt, tụng Tâm Kinh, còn gọi Bát nhã Tâm kinh, Bổ khuyết Tâm kinh, theo bản dịch của ngài Huyền Trang, gồm 260 chữ nho, là bản thâu tóm bộ Kinh Bát Nhã 600 quyển, nên khi tụng Tâm Kinh cũng như tụng trọn bộ Bát Nhã. Vì thế, Tâm Kinh rất được trân trọng, không ai dám sửa lời, đổi chữ, thậm chí khi dịch sang tiếng địa phương vẫn cố giữ đúng 260 âm, nên khi Phật tử Đại thừa tụng Tâm Kinh nghe rất đều và hòa hợp. Ngay đến các Phật tử Thiền tông, không tụng kinh chú, song bao giờ vẫn kết thúc khóa thiền bằng bài Tâm Kinh. Ở Việt nam, dù có vô số bản dịch tiếng Việt, nhưng người Phật tử Đại thừa vẫn theo bản tụng âm, giữ nguyên 260 chữ, vì sự kính trọng này.
Các chùa thường tụng thêm ba lần bài Thiên A Tu La để cảm tạ quỷ thần đến đạo tràng nghe kinh, xin các ngài ủng hộ.
Phần 3: Tự Quy & Hồi Hướng
Kết thúc buổi lễ là Phục Nguyện, Tự Quy và Hồi Hướng.
Phần này xem đơn giản song lại rất quan trọng trong nghi thức Đại thừa.
Phục Nguyện là nhắc lại mục đích, lý do buổi lễ, giống như bài Kỳ Nguyện ở trước. Trong các buổi lễ lớn, hay đi cúng đám, bài này dài hơn nhiều, thêm các phần riêng cho buổi lễ đó, như cầu an cho thí chủ, cầu siêu cho hương linh, gia đình được hạnh phúc, hoặc làm ăn may mắn, mua may bán đắt như lễ động thổ, khai trương... song bao giờ cũng kết thúc bằng bài Phổ nguyện: âm siêu dương thái, hải yến hà thanh, pháp giới chúng sanh, tình dữ vô tình, tề thành Phật đạo.
Tam Tự Quy là quy y tam bảo, ngồi tụng không cần lạy nếu ở nhà, còn tụng với đại chúng thì nên lạy theo họ để tỏ lòng tôn kính tam bảo. Đây là ba câu kinh rút từ Kinh Hoa Nghiêm, phẩm Tịnh Hạnh, nên tượng trưng cho toàn bộ Kinh Hoa Nghiêm. Tụng ba câu này cũng như tụng toàn bộ Hoa Nghiêm, vì thế Phật tử Đại thừa rất trân trọng ba câu này dù họ tụng theo kiểu nào, ngồi tụng hay đứng lạy. Trích Kinh Hoa Nghiêm, Hán bộ quyển 14, phẩm 11 “Tịnh hạnh”, Văn Thù Sư Lợi chỉ dạy Bồ-tát Trí Thủ cách dụng tâm để được các công đức tối thắng. Lời dịch có khác nhau chút ít, song ý kinh vẫn giữ nguyên:
“… Con quy Phật rồi
nguyện cho chúng sinh
cùng theo đạo cả
mở lòng tuyệt vời.
Con quy Pháp rồi
nguyện cho chúng sinh
hiểu thấu nghĩa kinh
trí tuệ như biển
Con quy Tăng rồi
nguyện cho chúng sinh
hợp đạo đồng tình
không gì trở ngại…”
Nguyên văn chữ Hán:
tự quy ư phật
đương nguyện chúng sinh
thiệu long phật chủng
phát vô thượng ý
tự quy ư pháp
đương nguyện chúng sinh
thâm nhập kinh tạng
trí tuệ như hải
tự quy ư tăng
đương nguyện chúng sinh
thống lý đại chúng
nhất thiết vô ngại
自歸於佛
當願眾生
紹隆佛種
發無上意
自歸於法
當願眾生
深入經藏
智慧如海
自歸於僧
當願眾生
統理大眾
一切無礙
Hồi Hướng là bốn câu kệ lấy trong Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, nên khi tụng bốn câu Hồi Hướng này cũng như tụng trọn bộ Pháp Hoa, vì thế Phật tử Đại thừa không bao giờ bỏ bốn câu này, tuy rằng đôi khi được tụng trước Tâm Kinh. Trích Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, quyển Ba, phẩm Bảy “Hóa thành dụ”, đoạn 10: năm trăm muôn ức Phạm Thiên Vương tung hoa cúng dường xong đem cung điện dâng lên Đức Phật mong Phật nạp ở:
“… Nguyện đem công đức này
Hướng về khắp tất cả
Đệ tử và chúng sanh
Đều đồng thành Phật đạo”
Nguyên văn:
nguyện dĩ thử công đức
phổ cập ư nhất thiết
ngã đẳng dữ chúng sanh
giai cộng thành phật đạo
願以此功德
普及於一切
我等與眾生
皆共成佛道
Tóm lại, tụng kinh theo nghi thức Đại thừa quả thật là một buổi “tụng kinh”, nghĩa là tụng các kinh Đại thừa, ít nhất là Bát Nhã, Hoa Nghiêm và Pháp Hoa dù cho nghi thức có ngắn gọn cách mấy. Bố cục nghi thức rất hợp lý, khởi từ Tịnh pháp giới, Cúng hương Tán Phật, Kỳ nguyện, Quán tưởng và Đảnh lễ trước khi tụng, qua phần tụng Đại bi Bát nhã nhắc nhở từ bi và trí tuệ, rồi các bài sám, tán, tụng, chú, kết thúc bằng Tự quy và Hồi hướng là tóm lược hai bộ kinh lớn Đại thừa.
Nghi thức này hiện phổ biến trong các nước Phật giáo Đại thừa, nếu có bị thay đổi thì chẳng qua để thích ứng phong hóa địa phương, song chẳng ai dám bỏ Đại Bi, Tâm Kinh, Tự Quy và Hồi Hướng. HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.BAT CHANH DAO.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.27/3/2015.
Thursday, March 26, 2015
Kinh Dược Sư - TT. Thích Trí Thoát Tụng
HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.BAT CHANH DAO.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.27/3/2015.
Thầy Thích Pháp Hòa - Trì Tụng Chú Đại Bi
HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.BAT CHANH DAO.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.27/3/2015..
KINH SÁM DƯỢC SƯ 4 -THẦY THÍCH PHÁP HÒA TỤNG
HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.BAT CHANH DAO.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.27/3/2015.
KINH SÁM DƯỢC SƯ 3 - THẦY THÍCH PHÁP HÒA TỤNG
HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.BAT CHANH DAO.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.27/3/2015.
KINH SÁM DƯỢC SƯ 2 - THẦY THÍCH PHÁP HÒA TỤNG
HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.BAT CHANH DAO.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.27/3/2015.
KINH SÁM DƯỢC SƯ 1 - THẦY THÍCH PHÁP HÒA TỤNG
HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.BAT CHANH DAO.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.27/3/2015.
Saturday, February 7, 2015
NGHI THỨC CẦU - SIÊU
HỒI HƯỚNG
THƯỢNG LAI
(Tụng Kinh A Di Ðà)
NIỆM HƯƠNG LỄ BÁI
(Thắp đèn đốt hương trầm xong, đứng ngay ngắn chắp tay để ngang ngực mật niệm)
TỊNH PHÁP-GIỚI CHƠN-NGÔN:
Án lam xóa ha. (3 lần)
TỊNH TAM-NGHIỆP CHƠN-NGÔN:
Án ta phạ bà phạ, truật đà ta phạ, đạt mạ ta phạ, bà phạ truật độ hám. (3 lần)
CÚNG HƯƠNG
(Thắp ba cây hương, quỳ ngay thẳng, cầm hương ngang trán niệm lớn bài cúng hương)
Nguyện thử diệu hương vân,
Biến mãn thập phương giới,
Cúng dường nhứt-thế Phật,
Tôn pháp chư Bồ tát,
Vô biên Thanh văn chúng,
Cập nhứt thế Thánh-Hiền,
Duyên khởi quang minh đài,
Xứng tánh tác Phật-sự,
Phổ huân chư chúng-sanh,
Giai phát Bồ-Ðề tâm,
Viễn-ly chư vọng-nghiệp,
Viên-thành vô-thượng đạo.
(Xá 3 xá rồi đọc bài kỳ nguyện)
KỲ NGUYỆN
Tư thời đệ-tử chúng đẳng phúng tụng kinh chú, xưng tán hồng-danh, tập thử công-đức, nguyện thập-phương thường-trú Tam-bảo, Bổn-sư Thích-Ca Mâu-Ni Phật, tiếp dẫn đạo-sư A-Di-Ðà Phật, từ-bi tiếp độ hương linh..... pháp-danh..... phiền-não đoạn-diệt, nghiệp-chướng tiêu trừ, tốc xả mê đồ, siêu sanh Tịnh-độ, ngưỡng kỳ chư Phật từ-bi phóng quang tiếp độ hương-linh vãng sanh Cực-lạc quốc.
TÁN PHẬT
Pháp vương vô-thượng tôn
Tam-giới vô luân thất
Thiên nhơn chi Ðạo-sư
Tứ-sanh chi từ-phụ
Ư nhứt niệm quy-y
Năng diệt tam-kỳ nghiệp
Xưng dương nhược tán-thán
Ức kiếp mạc năng tận.
(Ðứng dậy cấm hướng lên lư rồi chắp tay đứng thẳng và niệm lớn):
QUÁN TƯỞNG
Năng lễ, sở lễ tánh không tịch,
Cảm ứng đạo-giao nan tư nghì,
Ngã thử đạo tràng như Ðế-châu,
Thập phương chư Phật ảnh hiện trung,
Ngã thân ảnh hiện chư Phật tiền,
Ðầu diện tiếp túc quy mạng lễ.
-Chí tâm đảnh lễ: Nam-mô Tận hư-không, biến pháp-giới, quá, hiện, vị-lai thập-phương chư Phật, Tôn-Pháp, Hiền-Thánh Tăng, Thường-trú Tam-Bảo. (1 lạy)
- Chí tâm đảnh lễ: Nam-mô Ta-bà Giáo-chủ Bổn-sư Thích-Ca Mâu-Ni Phật, Ðương-lai hạ sanh Di-Lặc Tôn Phật, Ðại-trí Văn-Thù Sư-Lợi Bồ-tát, Ðại-hạnh Phổ-Hiền Bồ-tát, Hộ-Pháp Chư-tôn Bồ-tát, Linh-sơn hội thượng Phật Bồ-tát. (1 lạy)
- Chí tâm đảnh lễ: Nam-mô Tây-phương Cực-lạc thế-giới Ðại-từ Ðại-bi A-Di-Ðà Phật, Ðại bi Quán-Thế-AÂm Bồ-tát, Ðại-Thế-Chí Bồ-tát, Ðại-nguyện Ðịa-Tạng-Vương Bồ-tát, Thanh-tịnh Ðại-hải-chúng Bồ-tát. (1 lạy)
(Ðứng ngay, vô chuông mõ và đồng tụng):
TÁN LƯ-HƯƠNG
Lư hương sạ nhiệt,
Pháp giới mông huân,
Chư Phật hải hội tất diêu văn,
Tùy xứ kiết tường vân,
Thành ý phương ân,
Chư Phật hiện toàn thân.
Nam-mô Hương-Vân-Cái Bồ-tát ma-ha-tát. (3 lần)
CHÚ ÐẠI-BI
Nam-mô Ðại-Bi Hội-Thượng Phật Bồ-Tát. (3 lần)
Thiên thủ thiên nhãn vô ngại đại-bi tâm đà-la-ni.
Nam-mô hắc ra đát na, đa ra dạ da.
Nam-mô a rị da, bà lô yết đế, thước bát ra da, Bồ-đề tát đỏa bà da, ma ha tát đỏa bà da, ma ha ca lô ni ca da, án, tát bàn ra phạt duệ số đát na đát tỏa.
Nam-mô tất kiết lật đỏa y mông a rị da, bà lô kiết đế thất Phật ra lăng đà bà.
Nam-mô na ra cẩn trì hê rị ma ha bàn đa sa mế, tát bà a tha đậu thâu bằng, a thệ dựng, tát bà tát đa, na ma bà già, ma phạt đạt đậu, đát điệt tha. Án a bà lô hê, lô ca đế, ca ra đế, di hê rị, ma ha bồ-đề tát đỏa, tát bà tát bà, ma ra ma ra, ma hê ma hê, rị đà dựng, cu lô cu lô kiết mông, độ lô độ lô, phạt xà da đế, ma ha phạt xà da đế, đà ra đà ra, địa rị ni, thất Phật ra da, dá ra dá ra. Mạ mạ phạt ma ra, mục đế lệ, y hê y hê, thất na thất na a ra sâm Phật ra xá-lợi, phạt sa phạt sâm, Phật ra xá da, hô lô hô lô ma ra, hô lô hô lô hê rị, ta ra ta ra, tất rị tất rị, tô rô tô rô, bồ-đề dạ bồ-đề dạ, bồ-đà dạ, bồ-đà dạ, di đế rị dạ, na ra cẩn trì địa rị sắc ni na, ba dạ ma na ta bà ha. Tất đà dạ ta bà ha. Ma ha tất đà dạ ta bà ha. Tất đà du nghệ thất bàn ra dạ, ta bà ha. Na ra cẩn trì ta bà ha. Ma ra na ra ta bà ha. Tất ra tăng a mục khê da, ta bà ha. Ta bà ma ha, a tất đà dạ, ta bà ha. Giả kiết ra a tất đà dạ, ta bà ha. Ba đà ma yết tất đà dạ, ta bà ha. Na ra cẩn trì bàn đà ra dạ, ta bà ha. Ma bà lị thắng yết ra dạ, ta bà ha.
Nam-mô hắc ra đát na, đa ra dạ da.
Nam-mô a rị da, bà lô yết đế, thước bàng ra dạ, ta bà ha.
Án tất điện đô, mạn đa ra, bạt đà dạ, ta bà ha. (3 lần)
Nam-mô Bổn-sư Thích-Ca Mâu-Ni Phật. (3 lần)
KHAI KINH KỆ
Vô thượng thậm thâm vi diệu pháp,
Bá thiên vạn kiếp nan tao ngộ,
Ngã kim kiến văn đắc thọ trì,
Nguyện giải Như-Lai chơn thiệt nghĩa.
KINH A-DI-ÐÀ
NAM-MÔ LIÊN-TRÌ HẢI-HỘI PHẬT BỒ-TÁT. (3 lần)
PHẬT THUYẾT A-DI-ÐÀ KINH
Như thị ngã văn: Nhứt thời Phật tại Xá-vệ quốc, Kỳ thọ Cấp-cô-độc viên, dữ đại Tỳ-kheo tăng, thiên nhị bá ngũ thập nhơn câu, giai thị đại A-La-hán, chúng sở tri thức:
Trưởng-lão Xá-Lợi-Phất, Ma-ha Mục-kiền-liên, Ma-ha Ca-diếp, Ma-ha Ca-chiên-diên, Ma-ha Câu-hy-la, Li-bà-đa, Châu-lợi bàn-đà-dà, Nan-đà, A-Nan-đà, La-hầu-la, Kiều-phạm-ba-đề, Tân-đầu-lô-phả-la-đọa, Ca-lưu-đà-di, Ma-ha Kiếp-tân-na, Bạc-Câu-la, A-nâu-lâu-đà, như thị đẳng chư đại đệ tử, tinh chư Bồ-tát ma-ha-tát. Văn-thù Sư-lợi pháp-vương-tử, A-dật-đa Bồ-tát, Càng Ðà-ha-đề Bồ-tát, Thường-tinh-tấn Bồ-tát, dữ như thị đẳng, chư đại Bồ-tát; cập Thích-đề-hoàn nhơn đẳng, vô-lượng chư thiên, đại-chúng câu.
Nhĩ thời Phật cáo Trưởng lão Xá-Lợi-Phất: "Tùng thị Tây-phương quá thập vạn ức Phật-độ, hữu thế-giới danh viết Cực-lạc kỳ độ hữu Phật hiệu A-Di-Ðà, kim hiện tại thuyết-pháp".
Xá-Lợi-Phất! Bỉ độ hà cố danh vi Cực-lạc? Kỳ quốc chúng-sanh vô hữu chúng khổ, đản thọ chư lạc, cố danh Cực-lạc. Hựu Xá-Lợi-Phất! Cực-lạc quốc độ, thất trùng lan thuẫn, thất trùng la-võng, thất trùng hàng thọ, giai thị tứ bảo, châu tráp vi nhiễu, thị cố bỉ quốc danh vi Cực-lạc.
Hựu Xá-Lợi-Phất! Cực-lạc quốc độ, hữu thất bảo trì, bát công-đức thủy, sung mãn kỳ trung, trì để thuần dĩ kim sa bố địa, Tứ biên giai đạo, kim ngân, lưu-ly, pha-lê hiệp thành; thượng hữu, lâu các, diệc dĩ kim, ngân, lưu-ly, pha-lê, xa-cừ, xích-châu, mã-não nhi nghiêm sức chi. Trì chung liên-hoa, đại như xa luân, thanh sắc thanh quang, huỳnh sắc huỳnh quang, xích sắc xích quang, bạch sắc bạch quang, vi diệu hương khiết.
Xá-Lợi-Phất! Cực-lạc quốc độ thành tựu như thị công đức trang nghiêm.
Hựu Xá-Lợi-Phất! Bỉ Phật quốc-độ thường tác thiên nhạc, huỳnh kim vi địa, trú dạ lục thời, vũ thiên mạn-đà-la hoa, kỳ độ chúng-sanh thường dĩ thanh đán, các dĩ y-kích thạnh chúng diệu hoa cúng dường tha phương thập vạn ức Phật, tức dĩ thực thời hườn đáo bổn quốc, phạn thực kinh hành.
Xá-Lợi-Phất! Cực-lạc quốc độ thành tựu như thị công đức trang-nghiêm.
Phục thứ Xá-Lợi-Phất! Bỉ-quốc thường hữu chủng chủng kỳ diệu, tạp sắc chi điểu: Bạch-hạc, Khổng-tước, Anh-võ, Xá-lợi, Ca-lăng-tần-già, Cộng-mạng chi điểu, thị chư chúng điểu, trú dạ lục thời, xuất hòa nhã âm, kỳ âm diễn xướng: ngũ-căn, ngũ-lực, thất-bồ-đề phần, bát-thánh-đạo phần, như thị đẳng pháp, kỳ độ chúng-sanh văn thị âm dĩ, giai tất niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng.
Xá-Lợi-Phất! Nhữ vật vị thử điểu, thiệt thị tội báo sở sanh. Sở dĩ giả hà? Bỉ Phật quốc-độ vô tam ác đạo. Xá-Lợi-Phất! Kỳ Phật quốc-độ thượng vô ác đạo chi danh, hà huống hữu thiệt, thị chư chúng điểu, giai thị A-Di-Ðà Phật dục linh pháp-âm tuyên lưu biến hóa sở tác.
Xá-Lợi-Phất! Bỉ Phật quốc-độ vi phong xuy động, chư bảo hàng thọ, cập bảo la võng, xuất vi diệu âm, thí như bá thiên chủng nhạc đồng thời cu tác, văn thị âm giả, tự nhiên giai sanh: niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng chi tâm. Xá-Lợi-Phất! Kỳ Phật quốc-độ, thành tựu, như thị công-đức trang-nghiêm.
Xá-Lợi-Phất! Ư nhữ ý vân hà? Bỉ Phật hà cố hiệu A-Di-Ðà? Xá-Lợi-Phất! Bỉ Phật quang-minh vô-lượng, chiếu thập phương quốc, vô sở chướng ngại, thị cố hiệu vi A-Di-Ðà.
Hựu Xá-Lợi-Phất! Bỉ Phật thọ mạng, cập kỳ nhơn dân, vô lượng vô biên a-tăng-kỳ kiếp, cố danh A-Di-Ðà.
Xá-Lợi-Phất! A-Di-Ðà Phật thành Phật dĩ lai, ư kim thập kiếp.
Hựu Xá-Lợi-Phất! Bỉ Phật hữu vô-lượng vô-biên Thinh-văn đệ-tử, giai A-la-hán, phi thị toán số chi sở năng tri; chư Bồ-tát chúng diệc phục như thị.
Xá-Lợi-Phất! Bỉ Phật quốc độ thành-tựu như thị công-đức trang-nghiêm.
Hựu Xá-Lợi-Phất! Cực-lạc quốc-độ chúng-sanh sanh giả, giai thị a-bệ-bạt-trí, kỳ trung đa hữu nhứt sanh bổ xứ, kỳ số thậm đa phi thị toán số, sở năng tri chi, đản khả dĩ vô-lượng vô-biên a-tăng-kỳ thuyết.
Xá-Lợi-Phất! Chúng-sanh văn giả, ưng đương phát nguyện, nguyện sanh bỉ quốc. Sở dĩ giả hà? Ðắc dữ như thị chư thượng thiện-nhơn câu hội nhứt xứ.
Xá-Lợi-Phất! Bất khả dĩ thiểu thiện-căn phước-đức nhơn-duyên, đắc sanh bỉ quốc.
Xá-Lợi-Phất! Nhược hữu thiện-nam tử, thiện-nư nhơn, văn thuyết A-Di-Ðà Phật, chấp trì danh-hiệu, nhược nhứt nhựt, nhược nhị nhựt, nhược tam nhựt, nhược tứ nhựt, nhược ngũ nhựt, nhược lục nhựt, nhược thất nhựt, nhứt tâm bất loạn. Kỳ nhơn lâm mạng chung thời, A-Di-Ðà Phật dữ chư Thánh-chúng, hiện tại kỳ tiền, thị nhơn chung thời, tâm bất điên-đảo, tức đắc vãng-sanh A-Di-Ðà Phật Cực-lạc quốc-độ.
Xá-Lợi-Phất! Ngã kiến thị lợi, cố thuyết thử ngôn, nhược hữu chúng-sanh văn thị thuyết giả, ưng đương phát nguyện, sanh bỉ quốc độ.
Xá-Lợi-Phất! Như ngã kim giả, tán thán A-Di-Ðà Phật bất khả tư nghị công-đức chi lợi.
Ðông phương diệc hữu A-súc-bệ Phật, Tu-di-tướng Phật, Ðại-tu-di Phật, Tu-di-quang Phật, Diệu-âm Phật; như thị đẳng hằng hà sa số chư Phật, các ư kỳ quốc, xuất quảng trường thiệt tướng, biến phú tam-thiên đại-thiên thế-giới, thuyết thành thiệt ngôn: "Nhữ đẳng chúng-sanh đương tín thị xưng tán bất khả tư-nghị công-đức nhứt thiết chư Phật sở hộ-niệm kinh".
Xá-Lợi-Phất! Nam phương thế-giới hữu Nhựt-Nguyệt-Ðăng Phật, Danh-Văn-Quang Phật, Ðại-Diệm-Kiên Phật, Tu-Di-Ðăng Phật, Vô-Lượng Tinh Tấn Phật; như thị đẳng hằng hà sa số chư Phật, các ư kỳ quốc, xuất quảng trường thiệt tướng, biến phú tam-thiên đại-thiên thế-giới, thuyết thành thiệt ngôn: "Nhữ đẳng chúng-sanh đương tín thị, xưng tán bất khả tư-nghị công-đức nhứt thiết chư Phật sở hộ niệm kinh".
Xá-Lợi-Phất! Tây-Phương thế-giới hữu Vô-Lượng-Thọ Phật, Vô-Lượng-Tướng Phật, Vô-Lượng-Tràng Phật, Ðại-Quang-Phật, Ðại-Minh Phật, Bảo-Tướng Phật, Tịnh-Quang Phật; như thị đẳng hằng hà sa số chư Phật, các ư kỳ quốc, xuất quảng trường thiệt tướng, biến phú tam-thiên đại-thiên thế-giới, thuyết thành thiệt ngôn: "Nhữ đẳng chúng-sanh đương tín thị, xưng tán bất khả tư-nghị công-đức nhứt thiết chư Phật sở hộ niệm kinh".
Xá-Lợi-Phất! Bắc phương thế-giới, hữu Diệm-Kiên Phật, Tối-Thắng-AÂm Phật, Nan-Thơ Phật, Nhựt-Sanh Phật, Võng Minh Phật; như thị đẳng hằng hà sa số chư Phật, các ư kỳ quốc, xuất quảng trường thiệt tướng, biến phú tam-thiên đại-thiên thế-giới, thuyết thành thiệt ngôn: "Nhữ đẳng chúng-sanh đương tín thị, xưng tán bất khả tư-nghị công-đức nhứt thiết chư Phật sở hộ-niệm kinh".
Xá-Lợi-Phất! Hạ phương thế-giới, hữu Sư-Tử Phật, Danh-Văn Phật, Danh-Quang Phật, Ðạt-Ma Phật, Pháp-Tràng Phật, Trì-Pháp Phật; như thị đẳng hằng hà sa số chư Phật, các ư kỳ quốc, xuất quảng trường thiệt tướng, biến phú tam-thiên đại-thiên thế-giới, thuyết thành thiệt ngôn: "Nhữ đẳng chúng-sanh đương tín thị, xưng tán bất khả tư-nghị công-đức nhứt thiết chư Phật sở hộ niệm kinh".
Xá-Lợi-Phất! Thượng phương thế-giới, hữu Phạm-AÂm Phật, Tú-Vương Phật, Hương-Thượng Phật, Hương-Quang Phật, Ðại-Diệm-Kiên Phật, Tạp-Sắc-Bảo-Hoa-Nghiêm thân Phật, Ta-La-Thọ-Vương Phật, Bảo-Hoa-Ðức Phật, Kiến-Nhứt-Thiết-Nghĩa Phật, Như-Tu-Di-Sơn Phật; như thị đẳng hằng hà sa số chư Phật, các ư kỳ quốc, xuất quảng trường thiệt tướng, biến phú tam-thiên đại-thiên thế-giới, thuyết thành thiệt ngôn: "Nhữ đẳng chúng-sanh đương tín thị, xưng tán bất khả tư-nghị công-đức nhứt thiết chư Phật sở hộ niệm kinh".
Xá-Lợi-Phất! "Ư nhữ ý vân hà? Hà cố danh vi: Nhứt thiết chư Phật sở hộ niệm kinh"?
Xá-Lợi-Phất! Nhược hữu thiện-nam tử, thiện-nữ nhơn văn thị kinh thọ trì giả, cập văn chư Phật danh giả, thị chư thiện-nam tử, thiện-nữ nhơn, giai vi nhứt-thiết chư Phật chi sở hộ niệm, giai đắc bất thối chuyển ư a-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề. Thị cố Xá-Lợi-Phất! Nhữ đẳng giai đương tín thọ ngã ngữ, cập chư Phật sở thuyết.
Xá-Lợi-Phất! Nhược hữu nhơn dĩ phát nguyện, kim phát-nguyện, đương phát nguyện, dục sanh A-Di-Ðà Phật quốc giả, thị chư nhơn đẳng giai đắc bất thối chuyển ư a-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề, ư bỉ quốc độ nhược dĩ sanh, nhược kim sanh, nhược đương sanh.
Thị cố Xá-Lợi-Phất! Chư thiện-nam tử, thiện-nữ nhơn, nhược hữu tín giả, ưng đương phát nguyện sanh bỉ quốc độ.
Xá-Lợi-Phất! Như ngã kim giả, xưng tán chư Phật bất khả tư nghị công-đức, bỉ chư Phật đẳng, diệc xưng tán ngã bất khả tư nghị công-đức nhi tác thị ngôn: "Thích-Ca Mâu-Ni Phật năng vi thậm nan hy hữu chi sự, năng ư Ta-bà quốc-độ ngũ-trược ác thế; kiếp-trược, kiến-trược, phiền-não trược, chúng-sanh trược, mạng-trược trung đắc a-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề, vị chư chúng-sanh, thuyết thị nhứt thiết thế-gian nan tín chi pháp.
Xá-Lợi-Phất! Ðương tri ngã ư ngũ-trược ác thế, hành thử nan sự, đắc a-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề, vị nhứt thiết thế-gian thuyết thử nan tín chi pháp, thị vi thậm nan.
Phật thuyết thử kinh dĩ, Xá-Lợi-Phất cập chư Tỳ-kheo, nhứt thiết thế-gian, Thiên, Nhơn, A-tu-la đẳng, văn Phật sở thuyết, hoan-hỷ tín thọ, tác lễ nhi khứ.
Phật thuyết A-Di-Ðà kinh.
***
A-DI-ÐÀ PHẬT TÁN:
Tây-phương Giáo-Chủ Tịnh-độ năng Nhơn, Tứ thập bát nguyện độ chúng-sanh, Phát nguyện thệ hoằng thâm. Thượng-phẩm thượng-sanh, Ðồng phó Bửu-Liên thành.
CHÍ TÂM ÐẢNH LỄ:
(Mỗi câu đều đọc)
1.- Nam-mô An-Dưỡng quốc, Cực-lạc giới Di-Ðà Hải-hội, Vô-Lượng-Quang Như-Lai.
2.- Nam-mô An-Dưỡng quốc, Cực-lạc giới Di-Ðà Hải-hội, Vô-Biên-Quang Như-Lai.
3.- Nam-mô An-Dưỡng quốc, Cực-lạc giới Di-Ðà Hải-hội, Vô-Ngại-Quang Như-Lai.
4.- Nam-mô An-Dưỡng quốc, Cực-lạc giới Di-Ðà Hải-hội, Vô-Ðối-Quang Như-Lai.
5.- Nam-mô An-Dưỡng quốc, Cực-lạc giới Di-Ðà Hải-hội, Diệm-Vương-Quang Như-Lai.
6.- Nam-mô An-Dưỡng quốc, Cực-lạc giới Di-Ðà Hải-hội, Thanh-Tịnh-Quang Như-Lai.
7.- Nam-mô An-Dưỡng quốc, Cực-lạc giới Di-Ðà Hải-hội, Hoan-Hỉ-Quang Như-Lai.
8.- Nam-mô An-Dưỡng quốc, Cực-lạc giới Di-Ðà Hải-hội, Trí-Huệ-Quang Như-Lai.
9.- Nam-mô An-Dưỡng quốc, Cực-lạc giới Di-Ðà Hải-hội, Nan-Tư-Quang Như-Lai.
10.- Nam-mô An-Dưỡng quốc, Cực-lạc giới Di-Ðà Hải-hội, Bất-Ðoạn-Quang Như-Lai.
11.- Nam-mô An-Dưỡng quốc, Cực-lạc giới Di-Ðà Hải-hội, Vô-Xưng-Quang Như-Lai.
12.- Nam-mô An-Dưỡng quốc, Cực-lạc giới Di-Ðà Hải-hội, Siêu-Nhật-Nguyệt-Quang Như-Lai.
MA-HA BÁT-NHÃ BA-LA MẬT-ÐA TAÂM-KINH
Quán-tự-tại Bồ-tát, hành thâm Bát-nhã Ba-la mật-đa thời, chiếu kiến ngũ-uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách.
Xá-Lợi-Tử ! Sắc bất dị không, không bất dị sắc, sắc tức thị không, không tức thị sắc, thọ, tưởng, hành, thức, diệc phục như thị.
Xá-Lợi-Tử ! Thị chư Pháp không tướng, bất sanh, bất diệt, bất cấu, bất tịnh, bất tăng, bất giảm. Thị cố không trung, vô sắc, vô thọ, tưởng, hành, thức, vô nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý; vô sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp; vô nhãn giới, nãi chí vô ý-thức-giới, vô vô-minh diệc, vô vô-minh tận, nãi chí vô lão tử, diệc vô lão-tử tận; vô khổ, tập, diệt, đạo; vô trí diệc vô đắc.
Dĩ vô sở đắc cố, Bồ-đề tát-đỏa y Bát-nhã-ba-la mật-đa cố, tâm vô quái-ngại; vô quái-ngại cố, vô hữu khủng-bố, viễn ly điên-đảo mộng tưởng, cứu cánh Niết-bàn. Tam-thế chư Phật, y Bát-nhã-ba-la mật-đa cố, đắc A-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề.
Cố tri Bát-nhã Ba-la-mật-đa, thị đại-thần chú, thị đại minh chú, thị vô-thượng chú, thị vô đẳng đẳng chú năng trừ nhứt thiết khổ, chơn thiệt bất hư.
Cố thuyết Bát-nhã-ba-la-mật-đa chú, tức thuyết chú viết:
Yết-đế yết-đế, ba-la yết-đế, ba-la-tăng yết-đế, Bồ-đề tát bà ha. (3 lần)
VÃNG-SANH QUYẾT-ÐỊNH CHƠN-NGÔN:
Nam-mô a di đa bà dạ, Ða tha dà đa dạ, Ða địa dạ tha.
A di rị đô bà tỳ,
A di rị đa tất đam bà tỳ,
A di rị đa tì ca lan đế,
A di rị đa, tì ca lan đa,
Dà di nị dà dà na,
Chỉ đa ca lệ ta bà ha.
TÁN PHẬT
A-Di-Ðà Phật thân kim sắc
Tướng hảo quang-minh vô đẳng-luân
Bạch hào uyển-chuyển ngũ tu-di
Cám mục trừng thanh tứ đại hải.
Quang trung hóa Phật vô số ức,
Hóa Bồ-tát chúng diệc vô-biên
Tứ thập bát nguyện độ chúng-sanh
Cửu phẩm hàm linh đăng bỉ ngạn.
Nam-mô Tây-phương Cực-lạc thế-giới đại-từ đại-bi A-Di-Ðà Phật.
Nam-mô A-Di-Ðà Phật. (Niệm nhiều ít tùy ý)
Nam-mô Ðại-bi Quán-thế-âm Bồ-tát. (3 lần)
Nam-mô Ðại-Thế-Chí Bồ-tát. (3 lần)
Nam-mô Ðại-Tạng Vương Bồ-tát. (3 lần)
Nam-mô Thanh-tịnh Ðại-Hải chúng Bồ-tát. (3 lần)
SÁM THẬP PHƯƠNG
Thập phương Tam-thế Phật
A-Di-Ðà đệ nhứt,
Cửu phẩm độ chúng-sanh
Oai-đức vô cùng cực,
Ngã kim đại quy-y.
Sám-hối tam nghiệp tội,
Phàm hữu chư phước thiện,
Chí tâm dụng hồi-hướng.
Nguyện đồng niệm Phật nhơn,
Cảm ứng tùy thời hiện,
Lâm chung Tây-phương cảnh,
Phân-minh tại mục tiền,
Kiến văn giai tinh tấn,
Ðồng sanh Cực-lạc quốc,
Kiến Phật liễu sanh-tử,
Như Phật-độ nhứt-thiết,
Vô-biên phiền-não đoạn,
Vô-lượng pháp môn tu;
Thệ nguyện độ chúng-sanh,
Tổng giai thành Phật đạo;
Hư-không hữu tận, ngã nguyện vô-cùng,
Hư-không hữu tận, ngã nguyện vô-cùng,
Tình dữ vô tình, đồng viên chủng trí.
MƯỜI ÐẠI NGUYỆN
(Quỳ đọc)
Ðệ-tử chúng đẳng
Tùy-thuận tu tập
Phổ-Hiền Bồ-tát
Thập chủng đại nguyện:
Nhứt giả lễ kính chư Phật,
Nhị giả xưng tán Như-Lai,
Tam giả quảng tu cúng-dường,
Tứ giả sám-hối nghiệp-chướng,
Ngũ giả tùy-hỷ công-đức,
Lục giả thỉnh chuyển pháp-luân,
Thất giả thỉnh Phật trụ thế,
Bát giả thường tùy Phật học,
Cửu giả hằng thuận chúng-sanh,
Thập giả phổ giai hồi-hướng.
***
HỒI HƯỚNG
Phúng kinh công-đức thù thắng hạnh,
Vô biên thắng phước giai hồi-hướng,
Phổ nguyện pháp-giới chư chúng-sanh,
Tốc vãng vô-lượng-quang Phật sát.
Nguyện tiêu tam-chướng trừ phiền-não,
Nguyện đắc trí-huệ chơn minh liễu,
Phổ nguyện tội chướng tất tiêu trừ.
Thế thế thường hành Bồ-tát đạo.
Nguyện sanh Tây-phương Tịnh-độ trung,
Cửu phẩm Liên-hoa vi phụ mẫu,
Hoa khai kiến Phật ngộ vô sanh,
Bất thối Bồ-tát vi bạn lữ.
Nguyện dĩ thử công-đức,
Phổ cập ư nhứt thiết,
Ngã đẳng dữ chúng-sanh,
Giai cộng thành Phật-đạo.
***
THƯỢNG LAI
(Vị chủ lễ xướng một mình như sau):
Ðệ-tử chúng đẳng, cung tựu Phật tiền, phúng tụng Ðại-thừa kinh chú, cập niệm Phật công đức, chuyên vì kỳ siêu hương linh..... Pháp danh..... tốc xả mê-đồ, siêu sanh Tịnh-độ.
PHỤC NGUYỆN:
Nhứt thành thượng đạt, vạn tội băng tiêu, nguyện hương linh đắc độ cao-siêu, kỳ gia-quyến hàm triêm lợi-lạc.
PHỔ NGUYỆN:
AÂm siêu dương thới, pháp giới chúng-sanh, tình dữ vô tình, tề thành Phật đạo.
Nam-mô A-Di-Ðà Phật.
(Ðồng niệm)
TAM QUY-Y:
Tự quy-y Phật, đương nguyện chúng-sanh, thể giải đại-đạo, phát vô-thượng tâm. (1 lạy)
Tự quy-y Pháp, đương nguyện chúng-sanh, thâm nhập kinh-tạng, trí huệ như hải. (1 lạy)
Tự quy-y Tăng, đương nguyện chúng-sanh, thống-lý đại-chúng, nhứt thiết vô ngại. (1 lạy).HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.BAT CHANH DAO.THICH NU TAM GIAC,AUSTRALIA,SYDNEY.8/2/2015.
Subscribe to:
Comments (Atom)

