Tuesday, September 16, 2014

Ý NGHĨA KINH DƯỢC SƯ.

   
Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, đến thành Quảng Nghiêm thuyết pháp và giới thiệu về thế giới Tịnh Lưu Ly, cách mười muôn ức có thế giới Tinh Lưu ly, đó là đức Phật Dược Sư. Ngài đang thuyết pháp và cứu độ chúng sanh ở cõi Tịnh Lưu ly, thánh hiệu của Ngài là Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật. Dược có nghĩa là thuốc, hay nói cách khác là một vị đại lương y, Sư là vị Thầy thuốc Lưu Ly là ngọc Lưu Ly màu xanh trong suốt. Thể nó xanh bóng trong như sắc trời màu xanh, có tính chất trong xanh, trong ngoài sáng suốt như bầu trời trong xanh, bầu trời muôn dặm không có một gợn mây mà rất trong xanh. Không gian trong xanh không có mây mờ, tất cả bầu trời trong sáng như ánh sáng ngọc lưu ly màu xanh, đó là chân như không cấu nhiễm. Thể hiện Như Lai tạng tròn sáng không có chướng ngại. Cũng như dùng trí tuệ bát nhã vô phân biệt, quét sạch mọi ô nhiễm vô minh, mà soi rõ tạng tính, Như Lại chân như pháp giới, Vương có nghĩa Vua, là đai y Vương, Quang là ánh của ngọc Lưu Ly.
     Đức Phật thuyết pháp đều có mục đích khế cơ khế lý, ánh sáng ngọc lưu ly rất đúng với chân lý, cảnh trí chơn như. Như Lai được rõ cả hai nghĩa Dược Sư và Lưu Ly Quang Như lai, là ánh sáng ngọc lưu ly không biến không khác mà khắp chốn khắp nơi có tính chất dung hòa bình đẵng như hư không. Phật với chúng sinh là bình đẳng không thể nghĩ bàn, nhưng bởi vì chúng sinh, suy mê mà không giác ngộ, tư tưởng càn điên đảo chưa thể chứng nhập được chân như. Vì muốn cho chúng sanh diệt trừ được vọng tưởng điên đảo, gạt mây mù vô minh mà thấy mặt trời trí tuệ, rực rỡ trong xanh trên hư không. Là vì sức nguyện đại bi, từ trong tính chân như, trở lại thị hiện thành Phật, hợp bệnh cho thuốc, dạy cho chúng sanh tu các pháp lành mau chóng thành Phật.
     Như Lai là một trong mười thánh hiệu của Phật, vì thế cũng gọi Ngài là Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật, nghĩa là vị Phật Thầy thuốc chữa bệnh, có ánh sáng như ngọc Lưu Ly. Đức Phật Dược Sư hiểu biết và thông suốt tất cả, y dược của thế gian và xuất thế gian, Ngài có thể chữa trị hết tất cả những chứng bệnh khổ của chúng sanh. Nhất là những thân bệnh, và tâm bệnh, do điên đảo vọng tưởng tham sân si, gây ra phiền não khổ đau. Trong Kinh Dược Sư có nói rõ về ánh sáng của Phật Dược Sư. Trong ngoài sáng suốt tinh sạch hoàn toàn, không có chút nhơ bợn, ánh quang minh chói lọi khắp nơi. Ánh sáng ấy chiếu đến đâu thì phá hết tăm tối vô minh của chúng sanh, đem lợi lạc và diệt tất cả những bệnh khổ thân tâm của chúng sanh, khiến cho chúng sanh xa lìa mê vọng mà hướng đến giác ngộ giải thoát.
     Tây phải của Ngài bắt ấn giử chí nguyện, tây trái Ngài cầm thuốc chữa bệnh cho chúng sanh. Đức Phật Dược Sư có hai vị Bồ Tát, đó là Nhựt Quang Biến Chiếu Tồ Tát, và Nguyệt Quang Biến Chiếu Bồ Tát. Là hai vị bật thượng thủ của chúng bồ tát ở Phương Đông, giử gìn bảo trì khó báu chánh pháp của đức Phật Dược Sư. Và có mười hai Đại tướng mỗi vị co bảy ngàn vị dược xoa, có tứ vị Thiên Vương, thiện thần Hộ Pháp, bảo trì kho báu chánh pháp của đức Phật Dược Sư. Chúng ta trì tụng Kinh Dược Sư có tứ vị Thiên Vương, và 7000 vị Dược Xoa, thiên thần Hộ Pháp, gia trì ủng hộ cho những người trì tụng Kinh Sư, được mọi sự như ý muốn thành công tốt đẹp, trong khi tu đọa Bồ Tát Ngài có phát mười hai nguyện lớn để cứu độ chúng sinh.
      Nguyện thứ nhất: Ta nguyện đời sau, khi chứng đặng đạo bồ đề, thân ta có hào quang sáng suốt, rực rỡ, vô biên thế giới, khiến cho tất cả chúng hữu tình đều có đủ tướng đại trượng phu, cùng tám chục món tùy hình trang nghiêm như thân của ta vậy.
    Nguyện thứ hai: Ta nguyện đời sau, khi đặng đạo Bồ đề, thân ta như ngọc lưu ly, trong ngoài sáng suốt, tinh sạch hoàn toàn, không có chút nhơ bợn, ánh quang minh chói lọi khắp nơi, công đức cao vòi vọi và an trú giữa từng lưới dệt bằng tia sáng, tỏ hơn vừng nhựt nguyệt. Chúng sanh trong cõi u minh đều nhờ ánh sáng ấy mà tâm trí được mở mang và tùy ý muốn đi đến chỗ nào để làm các sự nghiệp gì cũng đều được cả.
     Nguyện thứ ba: Ta nguyện đời sau, khi đặng đạo Bồ đề, dùng trí huệ phương tiện vô lượng vô biên độ cho chúng hữu tình, khiến ai nấy đều có đủ vật dụng, chớ không cho ai phải chịu sự thiếu thốn.
     Nguyện thứ tư: Ta nguyện đời sau, khi đặng đạo Bồ đề, nếu có chúng hữu tình tu theo tà đạo, thì ta khiến họ quay về an trụ trong đạo Bồ đề, hoặc có những người tu hành theo hạnh Thinh văn, Ðộc giác, thì ta cũng lấy phép đại thừa mà dạy bảo cho họ.
     Nguyện thứ năm: Ta nguyện đời sau, khi đặng đạo Bồ đề, nếu có chúng hữu tình nhiều vô lượng, vô biên ở trong giáo pháp của ta mà tu hành theo hạnh thanh tịnh thì ta khiến cho tất cả đều giữ được giới pháp hoàn toàn đầy đủ cả tam tụ tịnh giới. Giả sử có người nào bị tội hủy phạm giới pháp mà khi đã nghe được danh hiệu ta thì trở lại được thanh tịnh, khỏi sa vào đường ác.
     Nguyện thứ sáu: Ta nguyện đời sau, khi chứng được đạo Bồ đề, nếu có chúng hữu tình nào thân hình hèn hạ, các căn, không đủ, xấu xa, khờ khạo, tai điếc, mắt đui, nói năng ngọng liệu, tay chân tật nguyền, lát hủi, diên cuồng, chịu tất cả những bệnh khổ ấy mà sinh lòng khi đã nghe danh hiệu ta thì liền được thân hình đoan chánh, tâm tánh khôn ngoan, các căn đầy đủ, không còn những bịnh khổ ấy nữa.
    Nguyện thứ bảy: Ta nguyện đời sau, khi chứng được đạo Bồ đề, nếu có chúng hữu tình nào bị những chứng bịnh hiểm nghèo không ai cứu chữa, không ai để nương nhờ, không gặp thầy, không gặp thuốc, không bà con, không nhà cửa, chịu nhiều nỗi nghèo hèn khốn khổ, mà hễ nghe danh hiệu ta đã nghe lọt vào tai một lần thì tất cả bệnh hoạn khổ não đều tiêu trừ, thân tâm an lạc, gia quyến sum vầy, của cải sung túc, cho đến chứng được đạo quả vô thượng Bồ đề.
     Nguyện thứ tám: Ta nguyện đời sau, khi chứng được đạo Bồ đề, nếu có những phụ nữ nào bị trăm điều hèn hạ khổ sở của thân gái làm cho buồn rầu, bực tức, sanh tâm nhàm chán, muốn bỏ thân ấy, mà hễ nghe danh hiệu ta rồi thì tất cả đều được chuyển thân gái thành thân trai, có đủ hình tướng trượng phu, cho đến chứng được đạo quả vô thượng Bồ đề.
     Nguyện thứ chín: Ta nguyện đời sau, khi chứng được đạo Bồ đề, thì khiến cho chúng hữu tình ra khỏi vòng lưới ma nghiệp, được giải thoát tất cả sự ràng buộc của ngoại đạo. Nếu có những kẻ sa vào rừng ác kiến, ta nhiếp dẫn họ trở về với chánh kiến và dần dần họ tu tập theo các hạnh Bồ tát đặng mau chứng đạo chánh đẳng Bồ đề.
     Nguyện thứ mười: Ta nguyện đời sau, khi chứng được đạo Bồ đề, thì khiến cho chúng hữu tình nào mà pháp luật nhà Vua gia tội phải bị xiềng xích, đánh đập, hoặc bị giam giữ trong chốn lao tù, hoặc bị chém giết, hoặc bị nhiều tai nạn nhục nhã, thân tâm chịu những nỗi khổ, buồn rầu, bức rức, hễ nghe đến danh hiệu ta, thì nhờ sức oai thần phước đức của ta đều được giải thoát tất cả những nỗi ưu khổ ấy.
      Nguyện thứ mười một: Ta nguyện đời sau, khi chứng được đạo Bồ đề, thì khiến cho chúng hữu tình nào bị sự đói khát hoành hành, đến nỗi vì tạo miếng ăn phải tạo các nghiệp dữ, mà hễ nghe danh hiệu ta rồi chuyên niệm thọ trì thì trước hết ta dùng các món ăn uống ngon lạ ban bố cho thân họ được no đủ và sau ta mới đem pháp vị nhiệm mầu kiến lập cho họ cái cảnh giới an lạc hoàn toàn.
     Nguyện thứ mười hai: Ta nguyện đời sau, khi chứng được đạo Bồ đề, thì khiến cho chúng hữu tình nào nghèo đến nổi không có áo che thân bị muỗi mòng cắn đốt, nóng lạnh giải dầu, ngày đêm khổ bức, hễ nghe đến danh hiệu ta mà chuyên niệm thọ trì thì ta khiến cho được như ý muốn. Nào các thứ y phục tốt đẹp, nào tất cả bảo vật trang nghiêm, nào tràng hoa phấn sáp bát ngát mùi thơm và trống nhạc cùng những điệu ca múa tùy tâm muốn thưởng thức món nào cũng được thỏa mãn cả, đó là 12 đại nguyện của đức Phật Dược Sư.
     Nhựt Quang Biến Chiếu Bồ Tát. Chơn ngon Đà là ni của Nhật Quang Bồ Tát, tiếng Phạn, nidyaprabhaya Svaha, phiên âm Án a ni để gia ba la phạt gia Sa Phộc hạ, dịch nghĩa quy mệnh Nhật Quang thành tựu.
     Nhật Quang Bồ Tát (tên Phạn là Sùrya-prabha), Nhật Quang Biến Chiếu Bồ Tát, là vị đứng ở bên phải Đức Phật Dược Sư, cùng với Nguyệt Quang Bồ Tát đứng bên trái, là hai vị bật thượng thủ của chúng bồ tát, trong thế giới Tịnh Lưu Ly ở Phương Đông. Danh hiệu Nhật Quang Biến Chiếu Bồ Tát có nghĩa là mặt trời phóng ra hàng ngàn ánh sáng chiếu khắp thiên hạ, phá tan mọi tăm tối. Ánh sáng mặt trời soi sáng tất cả những khu rừng tăm tối vô minh, ánh sáng ấy chiếu đến đau, thì tất cả nhân loại được an lạc hạnh phúc. Chúng ta đang sống trên thế gian này, có liên quang đến ánh sáng của mặt trời rất cần thuyết, các hệ thống năng lượng ánh sáng mặt trời rất mạnh. Tốc độ ánh sáng mặt trời là tốc độ cao nhất, thực vật dựa vào tác dụng ánh nắng mặt trời, quang hợp tạo ra dưỡng khí, có diệp lục màu xanh cây cối, tạo ra sự sống cho các thực vật…là những nền tảng nuôi sống tất cả thực vật, và động vật, trong đó có người của chúng ta.
     Ánh sáng mặt trời có thể trị liệu những chứng bệnh tim cao huyết áp, ánh sáng mặt trời giúp hạ huyết áp, giảm nguy cơ đau tim, và nhồi máu cơ tim, giúp tăng tuổi thọ. Chúng ta phải biết tận dụng, ánh sáng mặt trời đem lại rất nhiều lợi ích cho sức khỏe con người. Các bức xạ điện từ có ánh sáng nhìn thấy được bằng mắt thường, từ khoảng 740 mm đến 380 mm. Giống như mọi bức xạ điện từ, ánh sáng có thể được mô tả như những đợt sóng hạt chuyển động gọi là electron và proton, ánh sáng do mặt tời tạo ra còn được gọi là ánh nắng. Ánh sáng chân không, các bức xạ điện từ, với vận tốc, không thay đổi, thường được ký hiệu là c = 299, 792, 458 m/s thậm chí không phụ thuộc vào hệ quy chiếu. Năng lượng hạt electron proton, có bước sóng tốc độ ánh sáng trong chân không, proton không có khối lượng nghỉ, do đó động lượng, của hạt electron proton bằng năng lượng của nó chia cho tốc độ ánh sáng, theo công thức của thuyết tương đối.
     Ánh sáng mặt trời cũng tạo ra sự ấm áp giúp, an lạc hạnh phúc cho tất cả con người trên toàn thế giới nhân loại. Ánh nắng mặt trời giúp cho các môi trường sinh thái được thuận lợi, và giúp cho mọi thực vật được phát triển, nếu không có ánh sáng mặt trời thì không thể có sự sống trên trái đất. Các tia năng lượng electron và proton của mặt trời, còn có công năng sát khuẩn rất mạnh, có thể diệt trừ vi khuẩn, giúp cho con người giảm bớt tật bệnh, bệnh độc. Hiện nay các nhà KH dùng năng lượng electron và protron năng lượng mặt trời chế tạo ra các máy móc, năng lượng mặt trời chế tạo ra máy xáy lúa. Khoa học công nghệ dùng thiết bị ống thủy tinh chân không, thu năng lượng mặt trời, dùng ống nhiệt thủy tinh chân không để cấp nhiệt cho máy sấy nông sản. Dùng năng lượng mặt trời sáng chế tạo ra bếp gas có thể nấu cơm, đun nước... sinh hoạt trong gia đình. Dùng năng lượng mặt trời, chế tạo ra đèn giao thông tiết kiệm điện, dùng năng lượng mặt trời có thể đạt đến 55-65%, chế tạo xe hơi bằng năng lượng mặt trời. Đó là nói sơ lược về danh hiệu Nhựt Quang Biến Chiếu Bồ Tát, có lợi ích cho chúng sanh trong thế giới Ta bà này. Nếu có chúng sanh nào muốn cầu việc gì, trì niệm danh hiệu Nhựt Quang Biến Chiếu Bồ Tát, thì Bồ Tát Nhụt Quang cứu giúp cho chúng sanh, hết tất cả những chứng bệnh nan y, được an vui giải thoat mau chóng thành Bồ đề.
     Bồ Tát Nhựt Quang biến Chiếu bồ tát, y theo bản nguyện từ bi tam muội, biến chiếu cùng khắp pháp giới mười phương. Phá hết tăm tối sinh tử cho chúng sanh, giống như ánh sáng mặt trời chiếu khắp cả thế gian, cho nên có danh hiệu là Nhật Quang Biến Chiếu Bồ Tát. Bồ Tat Nhựt Quang cùng với Đức Phật Dược Sư có liên quan rất sâu xa, trong thời quá khứ. Có Đức Điện Quang Như Lai, hành hóa chúng sanh ở thế gian, có một vị Phạm Sĩ Bà La Môn, nuôi dưỡng hai đứa con trai, là Nhựt Chiếu và Nguyệt Chiếu. Cả ba cha con đều cảm thấy sự trược loạn bệnh khổ của thế gian, khi đó phát khởi tâm Bồ Đề, thề nguyện cứu chữa cho chúng sinh những chứng bệnh khổ, cho nên Đức Điện Quang Như Lai, tán thán công đức vô lượng vô biên. Vị Phạm Sĩ đổi tên là Y Vương, hai người con được đổi tên là Nhật Quang Biến Chiếu, và Nguyệt Quang Biến Chiếu. Do nương theo uy thần lực phó chúc của Đức Điện Quang Như Lai, cho nên sau khi thành Phật thì vị Phạm Sĩ đó, chính là Đức Phật Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Như Lai, hai người con là Nhựt Quang Biến Chiếu Bồ Tát, và Nguyệt Quang Biến Bồ Tát.
      Nguyệt Quang Biến Chiếu Bồ Tát. Chân Ngôn của Nguyệt Quang Bồ Tát, tiếng Phạn, Om Candraprabhah Svaha, phiên âm, Án Tán nại la bát la bà dã Sa phộc hạ, dịch nghĩa là, quy mệnh Nguyệt Quang Biến Chiếu Bồ Tát thành tựu. Nguyệt Quang Bồ Tát (tên Phạn là Candra-prabha), Nguyệt Quang còn gọi là nguyệt tịnh. Nguyệt có nghĩa là mặt trăng trong sáng thanh tịnh, ánh trăng mát diệu thanh lương, soi sáng tất cả thế gian, trong rừng sâu núi thẳm, đều có ánh trăng soi đến, làm cho mát mẻ thanh lương. Quang là ánh sáng của trăng, làm cho thế gian mát mẽ thanh bình, ánh nguyệt dẫn người lạc lối trong đêm, và đưa chúng sanh về cỗi tịnh, ánh trăng có thể làm cho chúng ta, hưởng được hoa trái an lạc giải thoát. Ánh trăng đưa con thuyền lạc lối về bến củ, và hiện nay vô số con thuyền vô minh đang chìm trong bóng tối không có lối thoát, để rồi lăn quay mãi trong vòng sinh tử luôn hồi lục đạo. Nhờ có ánh trăng mà người đi trong đêm thấy được đường về, nếu có chúng sanh nào thành tâm trì niệm Nguyệt Quang Biến Chiếu Bồ Tát, thì Bồ Tát thị hiện cứu giúp chúng sanh được an lạc hạnh phúc, đó là nói sơ lược về ý nghĩa của Nguyệt Quang Bồ Tát.
 
      Tứ Đại Thiên vương là bốn vị Thiên thần thuộc bộ Nhị Thập Thiên, ở tầng thứ nhất của dục giới Ta bà, Tứ Đại Thiên Vương, còn gọi là hộ thế Thiên Vương, trong thế giới quan của Phật giáo. Tu di sơn, giữa núi Tu di có bốn ngọn núi, là nơi cư trú của Tứ Thiên Vương, vị trí nằm ở lưng của núi Tu di. Trong hệ thống thờ tự Thiên Vương của Phật giáo, thờ tượng Thiên Vương được gọi là Thiên Vương điện, và vị trí được đặt ở cổng chính khi vào chùa, đó là cổng tam quang.
     Tứ vị Thiên Vương này ở bốn hướng Đông Tây Nam Bắc, Tứ Đại Thiên Vương là thần tướng của vua trời Đế Thích, ở núi Kiền Đà La, núi này có bốn đỉnh, mỗi đỉnh có một vị Thiên Vương trấn giữ, hộ trì cho tứ thiên hạ. Bốn cõi thiên hạ còn gọi là Tứ Đại Bộ Châu, gồm có Đông Thắng Thần Châu ở phương Đông, Nam Thiệm Bộ Châu. Địa cầu ở phương Nam, Tây Ngưu Hạ Châu ở phương Tây, Bắc Cu Lô Châu ở phương Bắc. Tứ Đại Bộ Châu, thuộc tầng thứ nhất ở cõi trời dục giới, quan niệm thế giới quan của Phật giáo, chia thế giới ra thành ba, dục giới, Sắc giới và vô sắc giới, Phật giáo cho rằng hết thảy hữu tình chúng sanh đều luân hồi sanh tử trong tam giới. Chỉ cho đến khi nào tu hành đạt đến cảnh giới thanh tịnh niết bàn, thì mới có thể vượt ra ngoài tam giới. Không còn thọ luân hồi khổ nữa, cõi dục giới lại có lục thiên, sáu tầng trời là nơi cư trú của Thiên thần, Tứ Đại Thiên Vương, ở tầng thứ nhất trong sáu tầng trời.
       Đông Phương Trì Quốc Thiên Vương, tên là Đa La Tra, ở vùng đất làm bằng vàng, phía Đông của núi Tu di. Đông Trì Quốc Thiên Vương, có trách nhiệm hộ trì quốc gia, là một người sống trong một cộng đồng một quốc gia. Phải có tinh thần trách nhiệm gìn giữ ổn định an lạc cho đất nước và cộng đồng của mình, tận tâm tận lực bảo vệ đất nước, tận tâm tận ý gìn giữ hòa bình, ổn định cho quốc gia, làm cho dân giàu nước mạnh, và đây cũng là đạo lý làm người lãnh đạo đất nước hộ trì nhân dân.
    Nam Phương Tăng Trưởng Thiên Vương, tên là Tỳ Lưu Ly, ở vùng đất làm bằng lưu ly, phía Nam núi Tu di. Nam Tăng Trưởng Thiên Vương, là vị Thiên Vương hộ trì thế giới Ta Bà, ứng với sự luân chuyển của thế giới Ta bà, luôn luôn tiến đến, phát triễn không khi nào dừng lại, nên gọi là Tăng trưởng. Vì vậy Tăng Trưởng Thiên Vương luôn luôn có tâm niệm nhắc nhở người trong cảnh giới Ta bà, được an lạc giải thoát là điều quan trọng nhất, là phải tu hành để tăng trưởng đạo hạnh, tăng trưởng đức hạnh. Cho đến tăng trưởng học vấn, trí tuệ, năng lực, hết thảy các pháp lành đều được tăng trưởng, vĩnh viễn không dừng. Như vậy thế giới luôn luôn tăng trưởng theo hướng tốt đẹp, tạo thành một thế giới tốt đẹp an lạc trong tương lai.
     Tây Phương Quảng Mục Thiên Vương, tên là Tỳ Lưu Bác Xoa, ở vùng đất làm bằng bạc trắng phía Tây núi Tu di. Tây Quảng Mục Thiên Vương, Quảng Mục có nghĩa là con mắt, có thể dùng ánh mắt thanh tịnh để quán sát thế giới, hộ trì mọi người, nên gọi là Quảng Mục Thiên Vương. Trên tay cầm một con xích long, có tượng thì cầm sợi dây màu đỏ, đây là thiện ý hoàn phục ngoại đạo, chúng ma, làm cho họ quy kính Tam bảo, trở thành người tốt trong ba cõi.
     Bắc Phương Đa Văn Thiên Vương, tên là Tỳ Sa Môn ở vùng đất làm bằng thủy tinh phía Bắc của núi Tu Di. Bắc Phương Đa Văn Thiên Vương, có nghĩa là phải nghe nhiều, biết nhiều, làm cho đạo đức vang xa đến khắp bốn phương thiên hạ. Cho nên mọi người được nghe được thấy, học tập được những điều hay lẽ phải, làm cho thiên hạ ngày thêm an lạc thái bình. Mọi người thương yêu hiểu biết nhau, tôn trọng lẫn nhau, trong tinh thần từ bi của đạo Phật. Cổ đức có dạy, “đọc hàng vạn cuốn sách, đi hàng vạn dặm đường” đọc sách để hiểu biết, đi khắp nơi để nghe thấy, có như vậy, thì tất cả vấn đề đều được sáng tỏ giác ngộ giải thoát. Bắc Phương Đa Thiên Vương, hộ trì thế giới Ta bà, gìn giữ ổn định cho xã hội. Luôn luôn nghe nhiều học hỏi, để tăng trưởng trí tuệ, tịnh tâm xem xét quán chiếu mọi vấn đề, học hỏi hết thảy những điều tốt đẹp. Đây là những nguyên tố chính để tạo thành cảnh giới Cực Lạc trong tương lai, đó mới là tâm nguyện của chư Phật, Thánh chúng thiện thần trong Đạo Phật.
     Hộ Pháp đều là những vị phát tâm hộ trì chánh pháp trong Phật giáo, trong Phật Quang Từ Điển, Hộ Pháp là các vị Thiện thần Phát tâm hộ trì Phật Pháp còn gọi Hộ Pháp thần. Hộ Pháp Thiên, gồm các vị như Phạm Thiên, Đế Thích, Kim Cang Lực sĩ, Tứ Thiên Vương, Hộ thế Bát thiên Vương, 10 vị La Sát Nữ. 12 vị thần tướng, 16 vị thiện thần, 28 bộ chúng thần, 30 vị Phiên thần, 36 vị thần vương, 18 vị Già lam thiện thần, Long vương, quỷ thần.v.v… Trong Kinh Tô Bà hô Đồng tử thỉnh vấn chép, đạo tràng phải thanh tịnh, dâng hoa hương hiến cúng, nghĩa là được chư vị Hộ Pháp thiện thần và chư Phật Bồ tát thị hiện hộ trì cho những người trì tụng khinh dược mọi sự thành công viên mãn tốt đẹp.
 
                  
 
HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.BAT CHANH DAO.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.16/9/2014.

No comments:

Post a Comment